hoa cuoi, hoa tuoi hoa cuoi, dich vu hoa tetren cao capren gia remay lam kemnguyen lieu lam kem - nguyen lieu lam yogurtmay lam kem viet namquan kem ngon - quan kem ngon o sai gondong phuc bao hodong phuc ngoai troidong phuc may do sai gonvai det kim xuat khauthoi trang cong so sai gondong phuc cong somay ao thunmay ba lo theo yeu causan xuat moc khoa gia remay ao thun dong phuc quang cao gia remay ao thunmay balomay ao thunmay lam kemmay ao thun bao hiem xe oto cho vay tin chap cho vay the chap
TIN MỚI
Home > Bản tin dầu khí > Cần một chiến lược quản trị rủi ro hoàn chỉnh cho ngành Dầu khí Việt Nam

Cần một chiến lược quản trị rủi ro hoàn chỉnh cho ngành Dầu khí Việt Nam

Quản trị rủi ro là một trong những vấn đề sống còn của các nhà lãnh đạo, quản trị doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế giới. Trong ngành công nghiệp dầu khí, công tác quản trị rủi ro càng được coi trọng, đặc biệt là các loại rủi ro như: chính trị, an toàn môi trường, biến động về giá, con người, công nghệ, vv… Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta còn xem nhẹ vai trò của các kiểm soát viên, chưa nhìn nhận đúng về vai trò của quản trị rủi ro, dẫn đến quản trị rủi ro “bị động” hơn là “chủ động”. Các rủi ro hầu như không được dự báo trước, nhiều khi sự việc đã có hiện tượng, thậm chí là rủi ro đã xảy ra mới lo giải quyết.

Các rủi ro trọng yếu trong ngành công nghiệp dầu khí

Thứ nhất: Rủi ro chính trị

Một trong những đặc thù của ngành dầu khí là đòi hỏi vốn đầu tư lớn, rủi ro cao và chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố chính trị… Các công ty dầu khí lớn thường là các công ty dầu khí quốc gia, hoặc đa quốc gia, được sở hữu toàn phần, hoặc một phần của Nhà nước. Vì vậy các chiến lược, các chính sách, đặc biệt là chính sách về năng lượng, kinh tế, ngoại giao của các quốc gia đều có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dầu khí.

Thứ hai: Rủi ro về trữ lượng

Song song với việc dự báo nhu cầu sử dụng, việc đánh giá khả năng cung cấp, dự báo trữ lượng, chứng minh thẩm định trữ lượng, tỷ lệ khai thác thực tế so với các con số đánh giá trữ lượng trong giai đoạn tìm kiếm, thăm dò cũng chỉ là các dự báo trong tương lai và có nhiều rủi ro phía trước. Vì vậy, khi thực hiện một dự án đầu tư về dầu khí, tỷ suất sinh lời (IRR, NPV) của dự án thường phải cao hơn so với các ngành khác (thường khoảng 35%, ít nhất là trên 30%), để có thể tránh được hoặc bù đắp được các rủi ro vì đầu tư lớn, rủi ro lớn nên lợi nhuận phải lớn để bù đắp cho những rủi ro như: giếng khô, trữ lượng thực tế không khả quan, tỷ lệ khai thác thấp, chi phí khai thác cao hơn dự kiến do địa hình dưới biển, dưới lòng đất mà chưa thể biết và lường hết được…

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và để gia tăng trữ lượng, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) không những tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí từ trong lòng thềm lục địa mà đã triển khai các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác ra nước ngoài. Hiện tại PVN đã tham gia đầu tư vào một số dự án thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài. Việc đầu tư ra nước ngoài cũng có nhiều thách thức rất lớn như: cạnh tranh gay gắt, các chính sách, luật pháp, quy định của quốc tế và các nước sở tại cần phải nghiên cứu kỹ và có kinh nghiệm trong khi ta mới hội nhập.

Thứ ba: Rủi ro bởi nhân tố thị trường

Dầu mỏ là sản phẩm mà giá được quyết định theo giá thế giới, vì vậy mỗi biến động của giá dầu mỏ trên thế giới đều ảnh hưởng trực tiếp đến các công ty dầu khí, ảnh hưởng về doanh thu, ảnh hưởng về việc đầu tư các dự án… Hiện giá dầu biến động khá phức tạp và duy trì ở mức thấp. Việc dự báo giá dầu trong các năm tới cùng với sự phục hồi kinh tế thế giới cũng là một thách thức và là rủi ro khó lường hết được do sự biến động rất lớn. Ngoài ra, yếu tố về tỷ giá cũng rất quan trọng, do sự trao đổi thương mại bằng các đồng tiền khác nhau nên tỷ giá giữa các đồng tiền cũng ảnh hưởng trực tiếp đến các công ty dầu khí.

Ở Việt Nam, do đòi hỏi vốn lớn trong các dự án dầu khí nên rủi ro về huy động vốn cũng rất lớn, thường một dự án dầu khí thì phải ngân hàng quốc tế lớn, hoặc nhiều ngân hàng thương mại trong nước hợp vốn cho vay tài trợ mới thực hiện được. Ngoài ra, rủi ro về chi phí khai thác biến động theo giá dầu, lãi vay, bảo hiểm… cũng phải tính đến.

Thứ tư: Rủi ro bởi nhân tố con người

Đến nay, PVN có gần 60.000 lao động gồm 8,16% lao động quản lý, 41,99% lao động chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ, 49,85% lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh. Thực tế làm việc cho thấy, đội ngũ nhân lực vận hành và bảo dưỡng ngày càng trưởng thành, đã dần thạo nghề và tiến tới thay thế hoàn toàn chuyên gia nước ngoài như ở Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Liên doanh Việt – Nga (Vietsovpetro)… Tuy nhiên, so với ngành dầu khí ở các nước phát triển thường có tỷ lệ người lao động qua đào tạo đạt 100%, số lượng lao động trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học đạt từ 72% trở lên thì ở Việt Nam con số này còn tương đối thấp, chỉ mới đạt 53%. Việc cạnh tranh trên thị trường lao động chất lượng cao trong ngành dầu khí cũng diễn ra rất gay gắt.

Ngoài những nhân tố trên, ngành dầu khí còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác rất quan trọng như: ảnh hưởng của môi trường, các yêu cầu về bảo vệ môi trường, quy định về an ninh, an toàn trong ngành của mỗi quốc gia đều có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động dầu khí như chính sách về phát thải nhà kính CO2.

Cũng như các ngành khác, rủi ro về công nghệ trong ngành dầu khí cũng có một vai trò rất quan trọng như cách mạng về shale oil/gas (shale gas revolution) ở Mỹ, có thể dẫn đến giá gas trên thị trường giảm mạnh.

Từ việc phân tích kỹ những nhân tố trên, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh thực tế, từng giai đoạn để các nhà quản lý đặt ra các ưu tiên giải quyết các vấn đề và là căn cứ để ra các quyết định quản lý, việc đánh giá rủi ro có tầm quan trọng sống còn của doanh nghiệp. Các nhà quản lý kinh tế phải đánh giá các rủi ro chính, trọng yếu, phân tích các lợi thế cũng như hạn chế của doanh nghiệp so với đối thủ. Đồng thời với việc xác định các rủi ro chính, trọng yếu, các nhà quản lý doanh nghiệp cũng phải đánh giá khả năng chấp nhận rủi ro của các doanh nghiệp.

Sau cùng là việc quyết định chọn giải pháp tối ưu để phòng ngừa, kiểm soát các rủi ro theo các thông lệ, quy định.

Để quản lý rủi ro một cách có hiệu quả, doanh nghiệp cần phải có chiến lược, trong đó xác định những rủi ro nào doanh nghiệp phải đối mặt, đặc biệt là các rủi ro trọng yếu có thể dẫn đến sự đổ vỡ của doanh nghiệp ngay khi thực hiện chiến lược kinh doanh đã lựa chọn và đưa ra các giải pháp phòng ngừa tối ưu nhất để quản lý những rủi ro này.

Quản trị rủi ro ở PVN

Tuy ngành Dầu khí Việt Nam còn non trẻ, nhưng vị thế và sự đóng góp của ngành đối với đất nước là không thể phủ nhận, đặc biệt là trong giai đoạn khó khăn thời gian qua. Ngành dầu khí đóng góp nhiều ngoại tệ nhất cho quốc gia, cùng với các sản phẩm thiết yếu phục vụ nền kinh tế quốc dân là sản phẩm điện khí, xăng dầu, khí nén cao áp, năng lượng sạch, phân urê và cung cấp khí hóa lỏng cho phát triển công nghiệp và tiêu dùng dân sinh trong cả nước. Ngành dầu khí đóng góp nhiều nhất vào ngân sách Nhà nước, đặc biệt là những năm trước đây. Mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu đang giảm dần song ngành Dầu khí Việt Nam vẫn duy trì mức đóng góp khoảng 10-15% tổng GDP cả nước.

Những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút sự chú ý của các công ty dầu khí lớn trên thế giới đến hợp tác thăm dò khai thác. Tuy nhiên, PVN là doanh nghiệp Nhà nước nên khả năng linh hoạt trong hoạt động kinh doanh thấp, tính ỷ lại cao, tính cạnh tranh thấp; nhân lực cũng như công nghệ chưa đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu của ngành.

PVN cũng đã thực hiện đồng bộ các giải pháp quản trị rủi ro như giải pháp về khoa học công nghệ, giải pháp về quản trị doanh nghiệp, giải pháp về tổ chức, con người để nhằm giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động của mình. Việc quản trị rủi ro trong Tập đoàn cũng được thực hiện qua các lớp theo đúng tinh thần Luật Doanh nghiệp, Hội đồng Thành viên kiểm soát những rủi ro trong việc thực hiện các dự án, công trình lớn… của Tập đoàn và các đơn vị thành viên.

Nhìn chung ở Việt Nam nói chung và ngành Dầu khí Việt Nam nói riêng chưa có sự nhìn nhận đúng về vai trò của quản trị rủi ro, chưa quan tâm đúng mức đến tầm quan trọng của quản trị rủi ro, dẫn đến quản trị rủi ro “bị động” hơn là “chủ động”. Các rủi ro hầu như không được dự báo trước, nhiều khi sự việc đã có hiện tượng, thậm chí là rủi ro đã xảy ra mới lo giải quyết. Thiếu gắn kết giữa quản trị rủi ro và quản trị doanh nghiệp, kiểm soát, cấu trúc quản trị (cơ cấu tổ chức, vai trò chức năng, nhiệm vụ) chưa được quy định đầy đủ và rõ ràng, xem nhẹ vai trò của các kiểm soát viên.

Công việc kiểm soát doanh nghiệp cũng là một công việc mới mẻ ở Việt Nam do nước ta mới hội nhập và việc thực hiện Luật Doanh nghiệp cũng mới và việc chuyển các doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần, hoặc TNHH MTV cũng chưa có kinh nghiệm.

Để hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả cần xây dựng một chiến lược quản trị rủi ro hoàn chỉnh, có hệ thống theo chuỗi giá trị giá tăng, nhằm thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, giám sát ngăn ngừa những rủi ro trọng yếu và có khả năng cao xảy ra theo thứ tự ưu tiên; có chính sách, quy trình, quy chế quản trị rủi ro, bảo hiểm con người và tài sản trong ngành Dầu khí Việt Nam.

HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP – TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Thegioibantin.com | Vina Aspire News

Nguồn: nang luong viet nam