hoa cuoi, hoa tuoi hoa cuoi, dich vu hoa tetren cao capren gia remay lam kemnguyen lieu lam kem - nguyen lieu lam yogurtmay lam kem viet namquan kem ngon - quan kem ngon o sai gondong phuc bao hodong phuc ngoai troidong phuc may do sai gonvai det kim xuat khauthoi trang cong so sai gondong phuc cong somay ao thunmay ba lo theo yeu causan xuat moc khoa gia remay ao thun dong phuc quang cao gia remay ao thunmay balomay ao thunmay lam kemmay ao thun bao hiem xe oto cho vay tin chap cho vay the chap
TIN MỚI

Con Người Gia Lai

Gia Lai là một tỉnh miền núi – biên giới nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 – 800 mét so với mực nước biển. Chiếm tuyệt đai đa số cư dân bản địa ở Gia Lai là hai dân tộc Jrai và Bahnar.

Theo những tài liệu dân tộc học và khảo cổ học thì có thể giả định địa danh cư trú gốc của người Jrai là cao nguyên Pleiku và hai lưu vực sông Ayun và sông Ba. Rồi từ địa bàn đó, dần dần người Jrai tiến xa lên về phía tây và về phía bắc. Còn người Bahnar thì cư trú chủ yếu ở đông bắc tỉnh Gia Lai (huyện An Khê, huyện Kbang, huyện Kông Chro và huyện Mang Yang) và ở đông nam tỉnh Kon Tum (quanh thị xã Kon Tum, huyện Kon Plông).

Hai dân tộc Jrai và Bahnar không chỉ là hai dân tộc lớn nhất, có ý thức rõ về địa vực lưu trú, mà còn có những tác động nhất định đối với các dân tộc khác trong khu vực.

Tên gọi dân tộc Gia Lai:
Tên gọi khác Giơ-rai, Chơ rai, Tơ Buăn, Hơbau, Hdrung, Chor
Nhóm ngôn ngữ:
Malayô – Pôlinêxia
Dân số:
240.000 người
Cư trú: Cư trú tập trung ở tỉnh Gia Lai, một bộ phận ở tỉnh Kon Tum và phía bắc tỉnh Đăk Lăk
Đặc điểm kinh tế:
Người Jrai sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt nương rẫy, lúa tẻ là cây lương thực chính. Công cụ canh tác của người Jrai giản đơn, chủ yếu là con dao chặt cây, phát rừng, cái cuốc xới đất và cây gậy chọc lỗ khi tra hạt giống.
Chăn nuôi trâu, bò, lợn, chó, gà phát triển. Xưa kia, người Jrai có đàn ngựa khá đông. Người Jrai còn nuôi cả voi. Đàn ông thạo đan lát các loại gùi, giỏ, đàn bà giỏi dệt khố váy, mền đắp, vải may áo cho gia đình. Săn bắn, hái lượm, đánh cá là những hoạt động kinh tế phụ khác có ý nghĩa đáng kể đối với đời sống của họ xưa và nay
Tổ chức cộng đồng:
Người Jrai sống thành từng làng (plơi hay buôn). Trong làng ông trưởng làng cùng các bô lão có uy tín lớn và giữ vai trò điều hành mọi sinh hoạt tập thể, ai nấy đều nghe và làm theo. Mỗi làng có nhà rông cao vút.
Hôn nhân gia đình:
Dân tộc Jrai theo truyền thống mẫu hệ, phụ nữ tự do lựa chọn người yêu và chủ động việc hôn nhân. Sau lễ cưới, chàng trai về ở nhà vợ, không được thừa kế tài sản. Trái lại, con gái lấy chồng lần lượt tách khỏi cha mẹ ra ở riêng, được phân chia một phần tài sản. Con cái đều theo họ mẹ. Ngoài xã hội, đàn ông đóng vai trò quan trọng hơn, nhưng trong nhà phụ nữ có ưu thế hơn. Ngày xưa, có tục những người cùng dòng họ (theo phía mẹ), khi chết chôn chung một hố, nay tục này đã giảm.
 Văn hóa:
Nói đến dân tộc Jrai phải kể đến những trường ca, truyện cổ nổi tiếng như “Đăm Di đi săn”, “Xinh Nhã”… Dân tộc Jrai cũng độc đáo trong nghệ thuật chơi chiêng, cồng, cạnh đó là đàn T’rưng, đàn Tưng – nưng, đàm Krông – pút. Những nhạc cụ truyền thống này gắn liền với đời sống tinh thần của đồng bào. Người Jrai hầu như hát múa từ tuổi nhi đồng cho đến khi già yếu, không còn đủ sức nữa, mới chịu đứng ngoài những cuộc nhảy múa nhân dịp lễ hội tổ chức trong làng hay trong gia đình.
Nhà cửa:
Có nơi ở nhà dài, có nơi làm nhà nhỏ, nhưng đều chung tập quán ở nhà sàn, đều theo truyền thống mở cửa chính nhìn về hướng bắc.
Trang phục:
Có nét riêng trong phong cách tạo hình và trang trí. Mặc dù hoa văn trang trí cụ thể các nhóm khác nhau nhưng có thông số chung của tộc người.
Trang phục nam:
Thường nhật, nam đội khăn, theo lối quấn nhiều vòng trên đầu rồi buông sang một bên tai, hoặc quấn gọn ghẽ như khăn xếp của người Kinh, khăn màu chàm. Nhìn chung nam giới Jrai đóng khố, khố này thường ngắn hơn khố ngày hội, là loại vải trắng có kẻ sọc.
Ngày lễ họ mang khố màu chàm (dài 410 cm x 29 cm), khố loại này được trang trí hoa văn màu trắng, đỏ thành các đường viền ở mép khố, đặc biệt hai đầu với các tua trên nền chàm. Có nhóm ở trần, có nhóm mang áo (loại cộc tay và loại dài tay màu chàm, khoét cổ chui đầu). Loại áo cộc tay thường có đường viền chỉ màu trắng bên sườn. Loại áo dài tay giống phong cách áo dài nam Ê-đê hay Mnông.
Trang phục nữ:
Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy hoặc quấn gọn trên đỉnh đầu. Áo là loại áo ngắn, chui đầu, phổ biến là kiểu chui đầu cổ “hình thuyền”, riêng nhóm Jrai Mthur lại có kiểu cổ thấp hình chữ V và các loại cổ phổ biến. Trên nền chàm áo được trang trí các sọc hoa văn theo bố cục ngang thân áo ở cổ, vai, ống tay, giữa ngực, gấu áo và hai cổ tay áo, đó là các sọc màu đỏ xen trắng và vàng trên nền chàm hoặc màu xanh nhạt diệp và màu chàm. Váy là loại váy hở quấn vào thân (kích thước trên dưới 140 cm x 100 cm). Phong cách trang trí trên váy cũng thiên về lối bố cục ngang với các đường sọc màu (như áo là chính). Có nhóm ở Pleiku với nguyên tắc trên nhưng được mở rộng thành các mảng hoa văn ở giữa thân váy, nửa thân dưới áo và hai ống tay. Trang sức có vòng cổ, vòng tay.

Thegioibantin.com | VinaAspire News

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Gia Lai

'); var MainContentW = 1045; var LeftBannerW = 130; var RightBannerW = 100; var LeftAdjust = 10; var RightAdjust = 10; var TopAdjust = 80; ShowAdDiv(); window.onresize=ShowAdDiv; }