hoa cuoi, hoa tuoi hoa cuoi, dich vu hoa tetren cao capren gia remay lam kemnguyen lieu lam kem - nguyen lieu lam yogurtmay lam kem viet namquan kem ngon - quan kem ngon o sai gonlap dat camera gia recamera quan sat gia resan xuat non snapback gia remay non hiphop gia remay ao thun gia remay ba lo theo yeu causan xuat huy hieumay ao thun dong phucmay balomay ao thunmay lam kemmay ao thun
TIN MỚI
Trang chủ > Trong nước > Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2016

Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2016

Kinh tế – xã hội nước ta 3 tháng đầu năm 2016 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng chậm và chứa đựng nhiều rủi ro. Kinh tế Nhật Bản và EU tăng trưởng ở mức thấp, Trung Quốc và một số nền kinh tế mới nổi tiếp tục suy giảm. Sự giảm giá của hàng hóa thế giới, đặc biệt là giá dầu giảm sâu và tăng trưởng thương mại toàn cầu giảm cùng với biến động khó lường của thị trường tài chính, tiền tệ thế giới và Trung Quốc đã tác động đến kinh tế nước ta, nhất là hoạt động xuất khẩu và thu ngân sách nhà nước. Ở trong nước, các đợt rét đậm, rét hại xảy ra đầu năm gây thiệt hại về cây trồng và gia súc tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Tình hình xâm nhập mặn diễn biến phức tạp ở Đồng bằng sông Cửu Long và hạn hán tại các tỉnh Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.

Trước tình hình đó, Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016. Đồng thời, để chủ động ứng phó với tình hình hạn hán, xâm nhập mặn, Thủ tướng Chính phủ ban hành kịp thời Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 04 tháng 02 năm 2016 về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống hạn, xâm nhập mặn; Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 09 tháng 3 năm 2016 về việc triển khai các biện pháp cấp bách ứng phó xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ thị các bộ, ngành, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị để tập trung chỉ đạo, triển khai, thực hiện nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại, ổn định đời sống và phát triển sản xuất. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong 3 tháng đầu năm như sau:

Kinhte

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2016 ước tính tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,72%, đóng góp 2,33 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực dịch vụ tăng 6,13%, đóng góp 2,48 điểm phần trăm; riêng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,23%, làm giảm 0,16 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung. Tăng trưởng quý I năm nay cao hơn mức tăng của quý I các năm 2012-2014, nhưng có dấu hiệu chững lại so với mức tăng 6,12% của cùng kỳ năm 2015.

Số liệu trên cho thấy, khu vực dịch vụ đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng chung. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực dịch vụ có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Bán buôn, bán lẻ tăng 7,52%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,99%; vận tải, kho bãi tăng 5,56%; thông tin và truyền thông tăng 8,21%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 4,75%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 3,43%, là mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 6,2%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,27% của cùng kỳ năm trước, chủ yếu do ngành khai khoáng giảm 1,2%, trong khi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ tăng 7,9%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 9,7% của cùng kỳ năm 2015. Giá trị tăng thêm ngành xây dựng quý I tăng 9,94% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2010 trở lại đây.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do ngành nông nghiệp (chiếm trên 70% giá trị tăng thêm khu vực I) giảm 2,69%. Nguyên nhân do sản lượng lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long và sản lượng cây trồng vụ đông ở miền Bắc sụt giảm. Giá trị tăng thêm của ngành lâm nghiệp tăng 6,24%; ngành thủy sản tăng 2,12%.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,44%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,24%; khu vực dịch vụ chiếm 43,61% (thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,71%). Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2015 là: 12,35%; 34,90%; 42,14% (thuế là 10,61%).

Xét về góc độ sử dụng GDP quý I/2016, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,87% so với cùng kỳ năm 2015, đóng góp 5,39 điểm phần trăm; tích lũy tài sản tăng 8,3%, đóng góp 1,56 điểm phần trăm; chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 1,49 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

quý I các năm 2014, 2015 và 2016

 Tốc độ tăng so với quý Inăm trước (%)Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng quý I năm 2016
(Điểm phần trăm)
Quý I năm 2014Quý I năm 2015Quý I     năm 2016
Tổng số5.066.125.465.46
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản2.682.25-1.23-0.16
Công nghiệp và xây dựng4.428.746.722.33
Dịch vụ5.905.686.132.48
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm6.694.516.500.81
Tổng sản phẩm trong nước quý I năm 2016

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I năm nay theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 178,8 nghìn tỷ đồng, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 137 nghìn tỷ đồng, giảm 2,5%; lâm nghiệp đạt 6,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3%; thủy sản đạt 35,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3%.

Nông nghiệp
Thời tiết nông vụ năm nay không thuận, mùa mưa đến muộn và kết thúc sớm nên dòng chảy bị thiếu hụt, mực nước sông Mê Công xuống mức thấp nhất trong gần một thế kỷ qua. Tình trạng xâm nhập mặn xảy ra sớm hơn cùng kỳ năm trước với độ mặn trên các sông chính tăng cao, thấm sâu vào nội đồng 40-60 km. Đến thời điểm hiện nay, toàn bộ các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã bị xâm nhập mặn, trong đó 8 tỉnh đã công bố tình trạng thiên tai do hạn hán và xâm nhập mặn. Một số địa phương có diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại nặng: Kiên Giang 56,5 nghìn ha (mất trắng 35,3 nghìn ha); Cà Mau 48,6 nghìn ha; Trà Vinh 21,6 nghìn ha (mất trắng 5 nghìn ha); Bến Tre gần 20 nghìn ha (mất trắng 14,7 nghìn ha); Long An 8,6 nghìn ha (mất trắng 1,1 nghìn ha).

Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã gieo cấy được 3021,6 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 98,8% cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc gieo cấy được 1100,3 nghìn ha, bằng 99%, trong đó một số địa phương (Bắc Ninh, Lào Cai, Bắc Giang, Thanh Hóa) do ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại đầu vụ nên đến nay chưa hoàn tất tiến độ gieo cấy vụ đông xuân.

Các địa phương phía Nam gieo cấy được 1921,3 nghìn ha, bằng 98,8% cùng kỳ năm 2015 (Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1553,8 nghìn ha, bằng 99,5%), chủ yếu do dự báo được tình hình khô hạn, không đảm bảo nguồn nước tưới tiêu nên một số địa phương đã chủ động không xuống giống hoặc chuyển đổi một phần diện tích lúa sang trồng cây khác cho giá trị kinh tế cao hơn. Một số địa phương có diện tích lúa đông xuân giảm nhiều: Bình Thuận giảm 12 nghìn ha; Kiên Giang giảm 6,2 nghìn ha; Gia Lai giảm 3 nghìn ha, Bến Tre giảm 2,4 nghìn ha. Đến giữa tháng Ba, các địa phương phía Nam đã thu hoạch hơn 1,1 triệu ha lúa đông xuân sớm, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1079 nghìn ha, chiếm 69,5% diện tích xuống giống và tăng 27,2%. Ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 67,2 tạ/ha, giảm 5,6% (khoảng 4 tạ/ha) so với vụ đông xuân trước, trong đó Bến Tre giảm 33,5%; Hậu Giang giảm 10,4%; Kiên Giang giảm 10,2%; Trà Vinh giảm 7%; Long An giảm 6,7%. Sản lượng lúa đông xuân toàn vùng ước đạt 10,4 triệu tấn, giảm 700 nghìn tấn.

Gieo trồng hoa màu giảm so với cùng kỳ năm trước do thời tiết không thuận lợi, hiệu quả kinh tế thấp. Tính đến giữa tháng Ba, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 347,4 nghìn ha ngô, bằng 97,4% cùng kỳ năm trước; 69 nghìn ha khoai lang, bằng 93,5%; 125,7 nghìn ha lạc, bằng 98,7%; 34,1 nghìn ha đỗ tương, bằng 77,1%; 518,2 nghìn ha rau đậu, bằng 103,8%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tháng nhìn chung ổn định, giá bán sản phẩm tăng cao và không xảy ra dịch bệnh lớn. Thời tiết rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc cuối tháng Một đã ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi trâu, bò tại các địa phương. Đàn trâu cả nước đến tháng Ba ước tính giảm 2% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng khoảng 1%, trong đó đàn bò sữa tăng 8%; đàn lợn tăng 2,3%; đàn gia cầm tăng 2%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 3 tháng đầu năm giảm 0,4%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 2%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 3,9%; sản lượng thịt gia cầm tăng 4,6%. Tính đến ngày 23/3/2016, cả nước không có dịch lợn tai xanh và dịch cúm gia cầm. Dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày chỉ còn ở Quảng Trị.

Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung cả nước 3 tháng đầu năm ước tính đạt 12,5 nghìn ha, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 1613 nghìn m3, tăng 7%; sản lượng củi khai thác đạt 7,7 triệu ste, tăng 1,3%. Một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 174,3 nghìn m3, tăng 15,2%; Bình Định 122,9 nghìn m3, tăng 13,9%; Quảng Nam 118 nghìn m3, tăng 16,5%;  Thanh Hóa 96,2 nghìn m3, tăng 45,9%; Thừa Thiên – Huế 77,4 nghìn m3, tăng 25,7%;  Đắk Lắk 64 nghìnm3, tăng 11%; Sơn La 10,7 nghìn m3, tăng 33,4%.

Mặc dù công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, nhưng do thời tiết khô hanh kéo dài, từ đầu tháng Ba đã liên tiếp xảy ra các vụ cháy rừng lớn tại các tỉnh vùng núi phía Bắc. Tính đến trung tuần tháng Ba, diện tích rừng bị thiệt hại trên cả nước là 823,1 ha, gấp 5,1 lần cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 726 ha, gấp 9,8 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 97,1 ha, tăng 13,6%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy lớn: Sơn La 378,7 ha; Điện Biên 227,4 ha; Yên Bái 50,4 ha. Theo thông tin cảnh báo cháy rừng từ cơ quan chức năng, cả nước hiện có 17 tỉnh có khu vực nguy cơ cháy rừng ở cấp V – cấp cực kỳ nguy hiểm. Do đó, các địa phương cần tập trung thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1271,7 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 934,2 nghìn tấn, tăng 3%; tôm đạt 124,5 nghìn tấn, xấp xỉ cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 3 tháng đạt 549,6 nghìn tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 388,3 nghìn tấn, tăng 2%; tôm đạt 91,9 nghìn tấn, giảm 1%.

Nuôi trồng thủy sản từ đầu năm đến nay gặp nhiều khó khăn như cá chết hàng loạt do rét đậm, rét hại ở một số tỉnh Bắc Bộ và tình trạng nguồn nước sông Đồng Nai và sông Cái Vừng tại An Giang, Đồng Tháp bị ô nhiễm. Nuôi cá tra găp khó khăn do giá cá tra không ổn định và ở mức thấp. Sản lượng cá tra ước tính đạt 211,8 nghìn tấn, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó An Giang đạt 47,1 nghìn tấn, giảm 16%; Cần Thơ 20,9 nghìn tấn, giảm 2,7%; Hậu Giang 7,8 nghìn tấn, giảm 1,3%; Vĩnh Long 7,5 nghìn tấn, giảm 55,2%; Đồng Tháp 79,8 nghìn tấn, tăng 0,3%. Thời tiết bất thường và tình trạng xâm nhập mặn sâu vào đất liền làm cho người nuôi tôm gặp khó khăn do không chủ động được nguồnnước. Sản lượng tôm sú 3 tháng đầu năm ước tính đạt 38,2 nghìn tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 32,6 nghìn tấn, giảm 6,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác 3 tháng đầu năm ước tính đạt 722,1 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 545,9 nghìn tấn, tăng 3,8%; tôm đạt 32,6 nghìn tấn, tăng 2,8%. Khai thác thủy sản biển tiếp tục phát huy hiệu quả từ mô hình Nghiệp đoàn nghề cá, các tổ khai thác biển, tổ hợp tác khai thác hải sản và các đội dịch vụ hậu cần nghề cá, cùng với giá xăng dầu ở mức thấp làm giảm chi phí khai thác đã khuyến khích bà con tích cực ra khơi bám biển. Sản lượng thủy sản khai thác biển 3 tháng ước tính đạt 683,8 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thủy sản khai thác nội địa ước tính đạt 38,3 nghìn tấn, tăng 0,5%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Ba ước tính tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 4,5% (riêng khai thác dầu thô giảm 6,4%); công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,2%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 9,5%.

Tính chung quý I năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2015. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 7,9%, đóng góp 5,6 điểm phần trămtrong mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 13,1%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 9,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 1,2%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung. Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất của sản phẩm trung gian dùng cho quá trình sản xuất tiếp theo tăng 6% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm dùng cho tích lũy và tiêu dùng cuối cùng tăng 6,5%; sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 8,8% (công cụ sản xuất tăng 5,9%; nguyên vật liệu xây dựng tăng 9,4%); sản phẩm tiêu dùng của dân cư tăng 5,4%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất quý I tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 23,1%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 14,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,1%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%; dệt tăng 12%; sản xuất đồ uống tăng 10,9%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 10,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plasstic tăng 10,2%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 9,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 8,6%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 8,3%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 6,1%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 5,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 3,4%; khai thác than tăng 0,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 1,9%; sản xuất thiết bị điện giảm 3%.

Trong quý I năm nay, một số sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm 2015: Ti vi tăng 43,1%; thép thanh, thép góc tăng 32,2%; thép cán tăng 23,7%; ô tô tăng 22,3%; sữa bột tăng 19,9%; thức ăn cho gia súc tăng 16,7%; khí hóa lỏng tăng 16%; điện sản xuất tăng 14%; sắt thép thô tăng 13,7%. Một số sản phẩm tăng khá: Bia các loại tăng 11,9%; xi măng tăng 11%; bột ngọt tăng 8,9%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ: Thủy hải sản chế biến và quần áo mặc thường cùng tăng 5,3%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 4,1%; than đá tăng 1%; giày, dép da và dầu mỏ thô khai thác cùng giảm 3,7%; đường kính giảm 3,9%; xe máy giảm 3,9%; thuốc lá giảm 5,3%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo giảm 6,3%; điện thoại di động giảm 17,6%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Quảng Nam tăng 36,6%; Thái Nguyên tăng 30,3%; Hải Phòng tăng 14,5%; Cần Thơ tăng 11,5%; Hải Dương tăng 9,6%; Hà Nội tăng 8,7%; Đà Nẵng tăng 8,2%; Đồng Nai tăng 8%; Bình Dương tăng 7,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,7%; Quảng Ninh tăng 4,4%; Vĩnh Phúc tăng 3,7%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 3,4%; Quảng Ngãi tăng 1,1%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2016 giảm 24,1% so với tháng trước và tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 2 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2015: Dệt tăng 43,4%; sản xuất kim loại tăng 24,5%; sản xuất đồ uống tăng 15,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,6%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,3%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 12,6%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,4%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 6,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 5,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 4,3%; sản xuất trang phục tăng 3,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn(trừ máy móc thiết bị) tăng 2,1%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 0,1%; sản xuất thuốc lá giảm 3,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 19,2%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/3/2016 tăng 8,7% so với cùng thời điểm năm 2015, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 3,8%; sản xuất thiết bị điện giảm 4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 4,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 13,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 15,6%; sản xuất kim loại giảm 16,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 52,2%; sản xuất thuốc lá giảm 57,9%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 83,1%; sản xuất đồ uống tăng 56,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 46,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 22,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 22,8%; sản xuất trang phục tăng 21,3%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân hai tháng đầu năm là 78,2%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao gồm: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 138,3%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 113%;sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 108,9%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2016 tăng 5,9% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,1% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,4% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 6,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,3%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,8%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Thái Nguyên tăng 35,9%; Vĩnh Phúc tăng 15,4%; Đồng Nai tăng 8,1%; Bình Dương tăng 7%; Quảng Nam tăng 6,9%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 4,3%; Đà Nẵng tăng 4,2%; Quảng Ninh tăng 4%; Hải Dương tăng 3,3%; Hải Phòng tăng 3,1%; Cần Thơ tăng 1,8%; Hà Nội tăng 1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,6%; Quảng Ngãi tăng 0,3%; Bắc Ninh giảm 2%.

Hoạt động của doanh nghiệp
Trong quý I năm nay, cả nước có 23767 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 186 nghìn tỷ đồng, tăng 24,8% về số doanh nghiệp và tăng 67,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,8 tỷ đồng, tăng 34,5%. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I là 322,2 nghìn người, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2015.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Ba, cả nước có 9863 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 72,9 nghìn tỷ đồng, tăng 76,6% về số doanh nghiệp và tăng 35,7% về số vốn đăng ký so với tháng trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 7,4 tỷ đồng, giảm 23,1%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng là 123,7 nghìn người, tăng 66,3%.

Trong tháng, cả nước có 1960 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 22,9% so với tháng trước; có 3881 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 895 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký và 2986 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký), giảm 3,3%; có 724 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, giảm 15,5%.

Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong quý I năm nay là 9376 doanh nghiệp, tăng 84,1% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong quý I là 2919 doanh nghiệp, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm tới 93%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 1181 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,5%); 877 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 30,0%); 473 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 16,2%) và 388 công ty cổ phần (chiếm 13,3%).

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong quý I là 20044 doanh nghiệp, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 8026 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 12018 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Trong tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động có đăng ký, có 2883 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 35,9%); 2841 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 35,4%); 1408 công ty cổ phần (chiếm 17,5%) và 894 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 11,2%). Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số thuế hoặc không đăng ký có 4811 công ty TNHH 1 thành viên (chiếm 40,0%); 3885 công ty TNHH 2 thành viên (chiếm 32,3%); 1899 công ty cổ phần (chiếm 15,9%) và 1422 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 11,8%) và 01 công ty hợp danh.

Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2016 cho thấy: Có 29,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay khả quan hơn quý trước; 27,1% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 43,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý II so với quý I năm nay, có 53,3% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 11,2% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

Về khối lượng sản xuất, có 31,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý I năm nay tăng so với quý trước; 29,5% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 39,1% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Về xu hướng quý II so với quý I, có 54,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 10,6% số doanh nghiệp dự báo giảm và 35,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 29,0% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng quý I năm nay cao hơn quý trước; 27,1% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 43,9% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý II so với quý Itiếp tục khả quan với 50,5% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 11,3% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 38,2% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý I năm nay so với quý trước, có 23,2% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 24,5% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 52,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 38,6% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 12,6% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 48,8% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Về chi phí sản xuất, có 23,6% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý I năm nay tăng so với quý trước; 10,8% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 65,6% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định. Xu hướng trong quý II/2016, có 18,5% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng so với quý I; 11,5% cho rằng chi phí giảm và 70% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.

Về giá bán sản phẩm quý I năm nay so với quý trước, có 14,6% số doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm tăng; 12,3% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 73,1% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý II so với quý I, có 16,7% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 8,2% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định.

Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 18,5% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý I năm nay tăng so với quý trước; 31,1% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 50,4% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 14,9% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 30,8% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 54,3% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.

Về tồn kho nguyên vật liệu quý I/2016 so với quý trước, có 17% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,7% số doanh nghiệp cho là giảm và 54,3% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý II so với quý I, có 14,9% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,4% dự báo lượng tồn kho giảm và 56,7% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên, vật liệu.

Về sử dụng lao động quý I năm nay so với quý trước, có 14,3% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng; 16,2% số doanh nghiệp khẳng định giảm và 69,5% số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định. Dự kiến quý II so với quý I, có 21,2% số doanh nghiệp dự báo quy mô lao động tăng; 8,2% số doanh nghiệp dự báo giảm và 70,6% số doanh nghiệp ổn định quy mô lao động.

Hoạt động dịch vụ

Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Ba ước tính đạt 275,4 nghìn tỷ đồng, giảm 3,4% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 212,5 nghìn tỷ đồng, giảm 1,9% và tăng 8,7%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 29 nghìn tỷ đồng, giảm 13,1% và tăng 11%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,1 nghìn tỷ đồng, giảm 12% và tăng 9,3%; doanh thu dịch vụ khác đạt 31,8 nghìn tỷ đồng, giảm 3,2% và tăng 7,3%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I năm nay ước tính đạt 859,6 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,9%, thấp hơn mức tăng 9,2% của cùng kỳ năm trước, do chỉ số giá bình quân quý I/2016 cao hơn chỉ số giá của cùng kỳ năm 2015.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa quý I năm nay đạt 657 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,4% tổng mức và tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số tỉnh, thành phố lớn, tập trung đông dân cư có doanh thu tăng khá: Bắc Giang tăng 14%; Hải Phòng tăng 13,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 12,5%; Quảng Ninh tăng 11,2%; Hải Dương tăng 10,8%; Hà Nội tăng 9,7%. Phân theo ngành hàng: Lương thực, thực phẩm tăng 13,2%; may mặc tăng 10,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 9,7%; phương tiện đi lại tăng 8,3%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 0,1%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống quý I ước tính đạt 97,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,3% tổng mức và tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Hải Phòng tăng 21,3%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 10%; Cần Thơ tăng 8,2%; Hà Nội tăng 6,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 5%.

Doanh thu du lịch lữ hành quý I đạt 6,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu du lịch lữ hành của Bình Định tăng 10,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,2%; Bến Tre tăng 7,9%; Hà Nội tăng 7,4%; Đồng Nai tăng 4,9%.

Doanh thu dịch vụ khác quý I năm nay đạt 98,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,5% tổng mức và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có doanh thu tăng khá: Hải Phòng tăng 16,2%; Yên Bái tăng 14,6%; Bắc Ninh tăng 14,3%; Khánh Hòa tăng 12,4%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 11,1%; Hà Giang tăng 11%; Hà Tĩnh tăng 10,9%; Nghệ An tăng 10,4%; Quảng Trị tăng 9,1%; Quảng Nam tăng 13,3%; Lâm Đồng tăng 11,4%.

Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách quý I năm nay ước tính đạt 884,5 triệu lượt khách, tăng 8,1% và 42,2 tỷ lượt khách.km, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 833,6 triệu lượt khách, tăng 8,2% và 27,9 tỷ lượt khách.km, tăng 7% ; đường hàng không đạt 8,6 triệu lượt khách, tăng 22% và 12,4 tỷ lượt khách.km, tăng 18,2%; đường sắt đạt 2,6 triệu lượt khách, giảm 1,4% và 1,1 tỷ lượt khách.km, giảm 4,1%; đường biển đạt 1,4 triệu lượt khách, tăng 5,1% và 67,1 triệu lượt khách.km, tăng 4,8%.

Vận tải hàng hóa quý I ước tính đạt 303,5 triệu tấn, tăng 7% và 59,9 tỷ tấn.km, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 295,2 triệu tấn, tăng 7,1% và 27,6 tỷ tấn.km, tăng 6,2%; vận tải ngoài nước đạt 8,3 triệu tấn, tăng 5,5% và 32,3 tỷ tấn.km, tăng 1,3%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 235,1 triệu tấn, tăng 7,9% và 14,5 tỷ tấn.km, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 52 triệu tấn, tăng 5,4% và 10,6 tỷ tấn.km, tăng 5,1%; đường biển đạt 14,9 triệu tấn, tăng 1,6% và 33,7 tỷ tấn.km, tăng 1,3%; đường sắt đạt 1,3 triệu tấn, giảm 20,9% và 0,8 tỷ tấn.km, giảm 22%.

Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Ba ước tính đạt 820,5 nghìn lượt người, giảm 1,6% so với tháng trước và tăng 28,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến bằng đường hàng không giảm 1,1% và tăng 22,5%; bằng đường bộ giảm 4,4% và tăng 110,8%; bằng đường biển tăng 9,3% và giảm 58,5%.

Tính chung 3 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 2459,2 nghìn lượt người, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 1986,6 nghìn lượt người, tăng 16,8%; đến bằng đường bộ đạt 435,6 nghìn lượt người, tăng 50,5%; đến bằng đường biển đạt 37 nghìn lượt người, giảm 40,1%.

Trong 3 tháng đầu năm, khách đến từ châu Á đạt 1684,6 nghìn lượt người, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Trung Quốc đạt 580,5 nghìn lượt người, tăng 65,9%; Hàn Quốc 408,1 nghìn lượt người, tăng 30,2%; Nhật Bản 192,4 nghìn lượt người, tăng 11,8%; Đài Loan 122,7 nghìn lượt người, tăng 15,2%; Ma-lai-xi-a 94,4 nghìn lượt người, tăng 18,7%; Thái Lan 66,8 nghìn lượt người, tăng 31,8%; Xin-ga-po 59,4 nghìn lượt người, tăng 14,4%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 447,3 nghìn lượt người, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Liên bang Nga đạt 108,8 nghìn lượt người, tăng 13,5%; Vương quốc Anh 68,7 nghìn lượt người, tăng 23,3%; Pháp 67,6 nghìn lượt người, tăng 11%; Đức 54,7 nghìn lượt người, tăng 18,7%; Thụy Điển 16,6 nghìn lượt người, tăng 25,6%; I-ta-li-a 15 nghìn lượt người, tăng 27,9%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 220,8 nghìn lượt người, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 164,7 nghìn lượt người, tăng 14,3%. Khách đến từ châu Úc đạt 100,1 nghìn lượt người, tăng 4,3%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 92 nghìn lượt người, tăng 7,3%. Khách đến từ châu Phi đạt 6,4 nghìn lượt người, giảm 9,5%.

ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 21/3/2016, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,08% so với cuối năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 2,09%). Huy động vốn của các ngân hàng thương mại tăng 2,26% (cùng kỳ năm trước tăng 0,94%); tăng trưởng tín dụng đạt 1,54% (cùng kỳ năm trước tăng 1,25%).

Thị trường bảo hiểm 3 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng tích cực. Đến thời điểm hiện nay, số doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường là 61 doanh nghiệp, trong đó lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ 29 doanh nghiệp và 1 chi nhánh nước ngoài; lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ có 17 doanh nghiệp; lĩnh vực môi giới bảo hiểm có 12 doanh nghiệp. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính quý I/2016 tăng 20% so với cùng kỳ năm 2015.

Xây dựng, đầu tư

Xây dựng

Hoạt động xây dựng có nhiều chuyển biến tích cực trong những tháng đầu năm. Các doanh nghiệp tiếp tục đẩy nhanh việc thi công những công trình chuyển tiếp, đồng thời triển khai thực hiện các hợp đồng mới. Giá trị sản xuất xây dựng quý I năm 2016 theo giá hiện hành ước tính đạt 201,5 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 16,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,4%; khu vực ngoài Nhà nước 171,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 85,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 13,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,5%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 78,4 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 34,1 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 66,9 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 22,1 nghìn tỷ đồng.

Giá trị sản xuất xây dựng quý I theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 164 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2015, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 13,9 nghìn tỷ đồng, tăng 11%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 139,3 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,8 nghìn tỷ đồng, giảm 6%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 63,2 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 28,2 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 54,3 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 18,3 nghìn tỷ đồng.

Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm nay theo giá hiện hành ước tính đạt 273,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 96,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,4% tổng vốn và tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 100,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,7% và tăng 11,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 76,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,9% và tăng 13,5%.

Tốc độ phát triển vốn đầu tư toàn xã hội thực hiệnquý I các năm 2014 – 2016 so với cùng kỳ năm trước
                                                                                                                       Đơn vị tính: %
Quý Inăm 2014Quý Inăm 2015Quý Inăm 2016
Tổng số108,8109,7110,7
Khu vực Nhà nước106,8107,7107,8
Khu vực ngoài Nhà nước111,6111,4111,5
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài108,2110,2113,5

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I ước tính đạt 42,4 nghìn tỷ đồng, bằng 17,2% kế hoạch năm và tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, gồm có:

– Vốn trung ương quản lý đạt 9,3 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5% kế hoạch năm và tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 3164 tỷ đồng, bằng 17,8% và tăng 19,9%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 962 tỷ đồng, bằng 15,1% và tăng 10,1%; Bộ Y tế 532 tỷ đồng, bằng 17,7% và tăng 44%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 438 tỷ đồng, bằng 14,5% và tăng 60,5%; Bộ Xây dựng 167 tỷ đồng, bằng 18,6% và giảm 32,4%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 136 tỷ đồng, bằng 16,1% và tăng 7,9%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 89 tỷ đồng, bằng 15,4% và giảm 5,8%; Bộ Công Thương 79 tỷ đồng, bằng 18,9% và tăng 20,4%; Bộ Khoa học và Công nghệ 47 tỷ đồng, bằng 18,8% và giảm 13,2%; Bộ Thông tin và Truyền thông 20 tỷ đồng, bằng 20,1% và giảm 43%.

– Vốn địa phương quản lý đạt 33,1 nghìn  tỷ đồng, bằng 17,4% kế hoạch năm và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó:Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 23,8 nghìn tỷ đồng, bằng 17,1% kế hoạch năm và tăng 11,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 7652 tỷ đồng, bằng 17,8% và tương đương cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 1713 tỷ đồng, bằng 22% và giảm 5,3%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 5447 tỷ đồng, bằng 17,9% kế hoạch năm và tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 2311 tỷ đồng, bằng 13% và tăng 2,6%; Bà Rịa – Vũng Tàu 1382 tỷ đồng, bằng 22,6% và tăng 7,7%; Nghệ An 1224 tỷ đồng, bằng 21,2% và tăng 9,8%; Thanh Hóa 991 tỷ đồng, bằng 24% và tăng 22,1%; Kiên Giang 943 tỷ đồng, bằng 28,4% và giảm 9,8%; Vĩnh Phúc 859 tỷ đồng, bằng 16,3% và tăng 16,1%; Bình Dương 695 tỷ đồng, bằng 10,8% và tăng 17,1%; Quảng Nam 659 tỷ đồng, bằng 16,4% và tăng 13,9%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2016 thu hút 473 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2740,4 triệu USD, tăng 77,2% về số dự án và tăng 125,2% về số vốn so với cùng kỳ năm 2015. Đồng thời có 203 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp bổ sung vốn với 1285,9 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 4026,3 triệu USD, tăng 119,1% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I/2016 ước tính đạt 3,5 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong 3 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 2908 triệu USD, chiếm 72,2% tổng vốn đăng ký; ngành hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 239,8 triệu USD, chiếm 6%;  ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 212,2 triệu USD, chiếm 5,3%; các ngành còn lại đạt 666,3 triệu USD, chiếm 16,5%.

Cả nước có 37 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 3 tháng, trong đó Hà Nội có số vốn đăng ký lớn nhất với 250,6 triệu USD, chiếm 9,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Tiền Giang 236,5 triệu USD, chiếm 8,6%; Bình Dương 236,1 triệu USD, chiếm 8,6%; Bắc Ninh 212,1 triệu USD, chiếm 7,7%; Bắc Giang 211,1 triệu USD, chiếm 7,7%; Đồng Nai 194,6 triệu USD, chiếm 7,1%; thành phố Hồ Chí Minh 192,4 triệu USD, chiếm 7%; Cần Thơ 171,5 triệu USD, chiếm 6,3%.

Trong số 37 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 3 tháng, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 513,5 triệu USD, chiếm 18,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 449,3 triệu USD, chiếm 16,4%; Đài Loan 385,9 triệu USD, chiếm 14,1%; Ma-lai-xi-a 242,4 triệu USD, chiếm 8,8%; Nhật Bản 208,9 triệu USD, chiếm 7,6%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 171,9 triệu USD, chiếm 6,3%…


Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2016 ước tính đạt 182,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18% dự toán năm, trong đó thu nội địa 152,1 nghìn tỷ đồng, bằng 19,4%; thu từ dầu thô 7,2 nghìn tỷ đồng, bằng 13,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 22,8 nghìn tỷ đồng, bằng 13,2%. Trong thu nội địa, một số khoản thu đạt khá: Thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 35,6 nghìn tỷ đồng, bằng 24,8%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 35,4 nghìn tỷ đồng, bằng 22,3%; thu tiền sử dụng đất 15,5 nghìn tỷ đồng, bằng 30,9%; thuế thu nhập cá nhân 13,2 nghìn tỷ đồng, bằng 20,8%; thuế bảo vệ môi trường 7 nghìn tỷ đồng, bằng 18,1%. Riêng thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 31,8 nghìn tỷ đồng, mới bằng 12,4% dự toán năm, chủ yếu do giảm thu từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất vì giá dầu giảm.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2016 ước tính đạt 227,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển trên 40,1 nghìn tỷ đồng, bằng 15,7% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 40 nghìn tỷ đồng, bằng 15,9%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 155,7 nghìn tỷ đồng, bằng 18,9%; chi trả nợ và viện trợ 31,9 nghìn tỷ đồng, bằng 20,6%.

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng Hai năm nay đạt 10099 triệu USD, thấp hơn 201 triệu USD so với số ước tính, trong đó hàng dệt may thấp hơn 371 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ thấp hơn 75 triệu USD; giày dép thấp hơn 58 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 55 triệu USD; phương tiện vận tải khác và phụ tùng thấp hơn 47 triệu USD; thủy sản thấp hơn 22 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 443 triệu USD; dầu thô cao hơn 38 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba ước tính đạt 14,20 tỷ USD, tăng 40,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,05 tỷ USD, tăng 56,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 10,15 tỷ USD, tăng 35,2%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng cao so với tháng trước: Hạt điều tăng 117,3%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 78,2%; thủy sản tăng 58,4%; sản phẩm chất dẻo tăng 56,9%; dệt may tăng 54,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 38,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 33,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba năm nay tăng 6,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 1,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 7,9%.

Tính chung quý I năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 37,9 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,8 tỷ USD, tăng 0,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 27,1 tỷ USD, tăng 5,8%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I đạt 39,8 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2015.

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực quý I năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 7,6 tỷ USD, tăng 14,2%; hàng dệt may đạt 5,2 tỷ USD, tăng 7,6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 3,8 tỷ USD, tăng 5,7%; giày dép đạt 2,8 tỷ USD, tăng 9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 2 tỷ USD, tăng 12%; thủy sản đạt 1,4 tỷ USD, tăng 4,6%; gạo đạt 635 triệu USD, tăng 29,3%; rau quả đạt 532 triệu USD, tăng 43%. Tuy nhiên, có một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh: Dầu thô đạt 446 triệu USD, giảm 52,8% so với cùng kỳ năm trước; sắt thép đạt 358 triệu USD, giảm 17,7%; sắn và sản phẩm của sắn đạt 330 triệu USD, giảm 25%.

Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu quý I năm nay không có nhiều thay đổi so với cùng kỳ năm trước: Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 17,5 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 46,2% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2015), trong đó điện thoại và linh kiện đạt 7,6 tỷ USD, tăng 14,2%, chiếm 20,1%. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 14,9 tỷ USD, tăng 2,7% và chiếm 39,3% (giảm 0,5 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 4,1 tỷ USD, tăng 6,5% và chiếm 10,8% (tăng 0,2 điểm phần trăm). Hàng thủy sản đạt 1,4 tỷ USD, tăng 4,6% và chiếm 3,7% (không thay đổi so với cùng kỳ năm 2015).

Về thị trường xuất khẩu quý I, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 7,9 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó kim ngạch một số mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang thị trường này tăng: Điện thoại và linh kiện tăng 62,6%; dệt may tăng 7,4%; giày dép tăng 11,4%. Tiếp đến là EU với kim ngạch 7,5 tỷ USD, tăng 9,3%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 5,6%; dệt may tăng 10,7%; giày dép tăng 17,7%. Thị trường Trung Quốc ước tính đạt 3,9 tỷ USD, tăng 8,2%, trong đó hàng rau quả tăng 72,8%; điện thoại và linh kiện tăng 77,1%; Hàn Quốc đạt 2,4 tỷ USD, tăng 31,5%. Riêng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường ASEAN và Nhật Bản giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó ASEAN đạt 4,2 tỷ USD, giảm 9,9%; Nhật Bản đạt 3,2 tỷ USD, giảm 0,4%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 02/2016 đạt 10290 triệu USD, cao hơn 90 triệu USD so với số ước tính, trong đó, điện tử máy tính và linh kiện cao hơn 118 triệu USD; ô tô cao hơn 56 triệu USD; tân dược cao hơn 48 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép cao hơn 38 triệu USD; sắt thép cao hơn 36 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác thấp hơn 129 triệu USD; vải thấp hơn 75 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu thấp hơn 38 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba năm nay ước tính đạt 14,10 tỷ USD, tăng 37% so với tháng trước, trong đókhu vực kinh tế trong nước đạt 5,65 tỷ USD, tăng 47,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,45 tỷ USD, tăng 30,8%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao: Nguyên phụ liệu dệt may, giày dép tăng 56,3%; chất dẻo tăng 55,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 43,3%; sản phẩm hóa chất tăng 48,9%; vải tăng 42,7%; sắt thép tăng 35,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba giảm 3,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 1,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 4,4%. Nhiều mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công lắp ráp trong nước có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Xăng dầu giảm 40,6%; điện thoại và linh kiện giảm 12,3%; chất dẻo giảm 10,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác giảm 9,6%.

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu quý I ước tính đạt 37,1 tỷ USD, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vựckinh tế trong nước đạt 14,9 tỷ USD, giảm 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 22,2 tỷ USD, giảm 5,7%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I năm nay đạt 40,7 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong quý I năm nay, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 6,3 tỷ USD, tăng 12,8%; kim loại thường khác đạt 1,1 tỷ USD, tăng 25,6%; sản phẩm chất dẻo đạt 974 triệu USD, tăng 13,1%; sản phẩm hóa chất đạt 786 triệu USD, tăng 2,3%; tân dược đạt 586 triệu USD, tăng 28,7%; bông đạt 436 triệu USD, tăng 13,7%; lúa mỳ đạt 233 triệu USD, tăng 37,4%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt gần 6 tỷ USD, giảm 14,1%; điện thoại và linh kiện đạt 2,4 tỷ USD, giảm 8,7%; vải đạt 2,1 tỷ USD, giảm 1,1%; chất dẻo đạt 1,3 tỷ USD, giảm 4,6%; xăng dầu đạt 865 triệu USD, giảm 36,2% (lượng tăng 9,1%); thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 746 triệu USD, giảm 13,7%; ô tô nguyên chiếc đạt 474 triệu USD, giảm 19%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu quý I, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 34,1 tỷ USD, giảm 4,7% và chiếm 91,9% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2015), trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 15,1 tỷ USD, giảm 5% và chiếm 40,7%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 19 tỷ USD, giảm 4,4% và chiếm 51,2%. Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 3 tỷ USD, giảm 6,3% và chiếm 8,1% (giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2015).

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu, trong quý I năm nay ngoài thị trường Hàn Quốc, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu từ hầu hết các thị trường lớn đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong quý I với 10,4 tỷ USD, giảm 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 13,1%; điện thoại và linh kiện giảm 18,4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 2,3%; vải tăng 6,6%. Nhập khẩu từ thị trường ASEAN đạt 5,4 tỷ USD, giảm 5,8%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện giảm 20,7%; xăng dầu giảm 23%. Nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 3,3 tỷ USD, giảm 8,8% (máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 30,8%; sản phẩm chất dẻo giảm 0,2%; linh kiện phụ tùng ô tô giảm 4,4%); EU đạt 2,2 tỷ USD, giảm 14,5% (máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 4,3%; sản phẩm hóa chất giảm 9%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu giảm 23,6%). Riêng nhập khẩu từ Hàn Quốc ước tính đạt 6,7 tỷ USD, tăng 2,1%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 33,5%; điện thoại và linh kiện tăng 35,7%; sản phẩm chất dẻo tăng 13,7%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Hai nhập siêu 191 triệu USDtháng Ba ước tính xuất siêu 100 triệu USD. Tính chung quý I/2016 xuất siêu 776 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 4,05 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,83 tỷ USD.

Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Xuất khẩu dịch vụ quý I năm nay ước tính đạt 2,92 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu dịch vụ du lịch đạt 2,02 tỷ USD, chiếm 69,2% tổng kim ngạch và tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2015. Nhập khẩu dịch vụ quý I ước tính đạt 3,73 tỷ USD, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhập khẩu dịch vụ vận tải đạt 2,02 tỷ USD, chiếm 54% kim ngạch và giảm 0,7%.

Nhập siêu dịch vụ quý I/2016 là 810 triệu USD. Với kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu cùng tính theo giá FOB (Loại trừ 2,02 tỷ USD dịch vụ vận tải được tính vào nhập khẩu dịch vụ) thì cân đối thương mại hàng hóa và dịch vụ quý I năm nay xuất siêu khoảng 1,98 tỷ USD, trong đó hàng hóa xuất siêu 2,79 tỷ USD, dịch vụ nhập siêu 0,81 tỷ USD.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2016 tăng 0,57% so với tháng trước, chủ yếu do tác động của giá dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục tăng. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ, 2 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 24,34%, trong đó dịch vụ y tế tăng 32,9% do giá dịch vụ y tế điều chỉnh tăng từ 01/3/2016 (tác động làm cho CPI tăng khoảng 1,27%); giáo dục tăng 0,66% do trong tháng có 6 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm: Giao thông giảm 3,64%, chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm vào thời điểm 18/02/2016 (tác động làm CPI chung giảm khoảng 0,34%); đồ uống và thuốc lá giảm 0,54%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,48% (lương thực tăng 0,23%; thực phẩm giảm 0,67%) do nhu cầu tiêu dùng sau Tết Nguyên đán giảm (tác động làm CPI chung giảm khoảng 0,16%); may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,17%; bưu chính viễn thông và văn hóa, giải trí, du lịch cùng giảm 0,1%; nhà ở, vật liệu xây dựng và thiết bị, đồ dùng gia đình giảm 0,01%.Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2016 tăng 0,99% so với tháng 12/2015 và tăng 1,69% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 1,25% so với bình quân cùng kỳ năm 2015, tuy cao hơn so với mức tăng 0,74% của cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng CPI trong quý I của một số năm gần đây. Các yếu tố chủ yếu giữ cho giá tiêu dùng 3 tháng đầu năm nay tăng thấp: (i) Mặc dù trong quý I nhu cầu hàng hóa phục vụ TếtNguyên đán tăng, nhưng do giá xăng dầu và giá cước vận tải giảm, nguồn cung hàng hóa dồi dào nên giá cả không biến động lớn; (ii) Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới tương đối ổn định, trong đó giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép giảm mạnh; (iii) Các cấp, các ngành tăng cường thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đồng thời thực hiện các chính sách bình ổn giá một số mặt hàng thiết yếu, ổn định giá cả thị trường trong dịp Tết Nguyên đán.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2016 giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 3 tháng đầu năm 2016 tăng 1,76% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 3/2016 tăng 4,87% so với tháng trước; tăng 7,79% so với tháng 12/2015; tăng 0,83% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2016 giảm 0,38% so với tháng trước; giảm 0,84% so với tháng 12/2015; tăng 4,26% so với cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm nay tăng 0,85% so với quý trước và giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 0,48% và giảm 1,54%; hàng lâm nghiệp tăng 1,14% và tăng 3,6%; hàng thủy sản tăng 2,08% và giảm 3,4%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp quý I giảm 0,73% so với quý trước và giảm 1,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 3,9% và giảm 9,77%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,13% và giảm 0,83%; điện và phân phối điện giảm 1,35% và tăng 5,27%; nước sạch, xử lý nước thải tăng 0,41% và tăng 2,24%.

Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất quý I năm nay giảm 1,32% so với quý trước và giảm 3,38% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 3,06% và giảm 5,41%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,83% và giảm 3,14%; sử dụng cho xây dựng giảm 6,55% và giảm 5,83%.

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý I tăng 0,02% so với quý trước và giảm 1,75% so với cùng kỳ năm trước, trong đógiá cước vận tải hành khách tăng 1,32% và tăng 0,06%; giá cước vận tải hàng hóa giảm 1,68% và giảm 4,37%; giá cước dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 2,34% và tăng 2,61%. Chỉ số giá cước vận tải quý I của các ngành đường như sau: Giá cước ngành đường sắt tăng 6,15% so với quý trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải đường bộ và xe buýt tăng 0,27% và giảm 1,7%; đường thủy giảm 2,4% và giảm 6,36%.

Chỉ số giá dịch vụ quý I năm 2016 tăng 0,91% so với quý trước và tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá dịch vụ của một số ngành như sau: Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 1,3% và tăng 3,64%; thông tin và truyền thông tăng 0,11% và tăng 0,32%; giáo dục và đào tạo tăng 0,81% và tăng 5,78%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 8,03% và tăng 9,68%.

Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I năm nay giảm 1,8% so với quý trước và giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó biến động chỉ số giá xuất khẩu của một số mặt hàng so với các kỳ tương ứng như sau: Rau quả giảm 4,42% và giảm 6,16%; sản phẩm từ hóa chất giảm 6,87% và giảm 10,84%; gạo tăng 6,71% và giảm 6,41%; hạt tiêu giảm 2,42% và tăng 2,35%; giấy và sản phẩm từ giấy giảm 3,28% và giảm 2,97%.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I giảm 2,87% so với quý trước và giảm 8,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của một số mặt hàng tăng/giảm so với các kỳ tương ứng như sau: Khí đốt hóa lỏng giảm 0,95% và giảm 23,35%; xăng dầu giảm 17,5% và giảm 40,8%; phân bón giảm 2,36% và giảm 0,21%; cao su giảm 8,66% và giảm 20,35%; sắt thép giảm 9,88% và giảm 26,76%.

Tỷ giá thương mại hàng hóa quý I năm nay tăng 1,1% so với quý trước và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ giá thương mại của xăng dầu tăng 0,7% và tăng 1,54%; cao su tăng 1,01% và tăng 0,9%; máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại và linh kiện tăng 4,09% và tăng 2,35%; dây điện và dây cáp điện tăng 4,23% và tăng 2,79%.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 01/4/2016 ước tính là 54,4 triệu người, tăng 761,8 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2015, bao gồm: Lao động nam 28,2 triệu người, chiếm 51,8%; lao động nữ 26,2 triệu người, chiếm 48,2%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,3 triệu người, chiếm 31,7%; khu vực nông thôn là 37,1 triệu người, chiếm 68,3%. Đến thời điểm trên, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 47,8 triệu người, tăng 128,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam 25,9 triệu người, chiếm 54,2%; lao động nữ 21,9 triệu người, chiếm 45,8%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 15,7 triệu người, chiếm 32,8 %; khu vực nông thôn là 32,1 triệu người, chiếm 67,2%.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 53,3 triệu người, bao gồm 22,5 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 42,3% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 13,0 triệu người, chiếm 24,4%; khu vực dịch vụ 17,8 triệu người, chiếm 33,3%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2016 ước tính là 2,23%, trong đó khu vực thành thị là 2,96%; khu vực nông thôn là 1,87%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi có trình độ đại học trở lên của cả nước là 3,96%(cao hơn 1,73 điểm phần trăm so với tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi), trong đó khu vực thành thị là 3,39%; khu vực nông thôn là 5,29%.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15 – 24 tuổi) quý I ước tính là 6,47%, trong đó khu vực thành thị là 9,51%; khu vực nông thôn là 5,35%. Tỷ lệ thất nghiệp của người từ 25 tuổi trở lên quý I là 1,27%, trong đó khu vực thành thị là 1,79%; khu vực nông thôn là 1,02%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm nay ước tính là 1,77%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,77%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,25% (Tỷ lệ thiếu việc làm của quý I/2015 tương ứng là 2,43%; 1,15%; 3,05%).

Trong tháng Ba, cả nước có 10,3 nghìn hộ thiếu đói, giảm 68,1% so với cùng kỳ năm 2015, tương ứng với 42,5 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 68,4%. Tính chung 3 tháng đầu năm, cả nước có 90,9 nghìn lượt hộ thiếu đói, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 365,9 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 9,4%. Thiếu đói xảy ra tập trung ở các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 7,4nghìn tấn lương thực và khoảng 600 triệu đồng.

Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 3 tháng đầu năm 2016 là 4104tỷ đồng, bao gồm: 2918 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 919 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và267 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Ba, cả nước có 1,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 6,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (02 trường hợp tử vong); 25 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 27 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 05 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu. Tính chung 3 tháng đầu năm, cả nước có hơn 5,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 24,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (06 trường hợp tử vong); 46 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 59 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 10 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/03/2016 là 227,3 nghìn người, trong đó 84,7 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 86,7 nghìn người.

Trong tháng đã xảy ra 06 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 227 người bị ngộ độc. Tính từ 17/12/2015 đến 17/3/2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 17 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 1011 người bị ngộ độc, trong đó 02 trường hợp tử vong.

Hoạt động văn hóa

Hoạt động văn hóa những tháng đầu năm tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân Bính Thân. Nhiều sự kiện được tổ chức với quy mô lớn và thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân như Chương trình Dạ hội chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; Triển lãm sách, tư liệu “70 năm Quốc hội Việt Nam”; “Đường hoa Xuân” tại Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh; Ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền tổ quốc” tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam; Chương trình giao lưu với chủ đề “Mùa xuân-Gia đình-Biển đảo”; Trại sáng tác nhiếp ảnh chủ đề “Khám phá đất phương Nam”. Các hoạt động thông tin, tuyên truyền kỷ niệm được tổ chức dưới nhiều hình thức, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm; tạo không khí hồ hởi, phấn khởi trong nhân dân.

Bên cạnh đó, công tác quản lý lễ hội được quan tâm thực hiện nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian và phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc; tăng cường kiểm tra và kiên quyết xử lý những lễ hội có vi phạm, không đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường.

Tai nạn giao thông

Từ thời điểm 16/02 đến 15/03/2016, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1367 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 693 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 674 vụ va chạm giao thông, làm 603 người chết; 366 người bị thương và 789 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 21,6% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 16,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 25,9%); số người chết giảm 22,5%; số người bị thương giảm 33,3% và số người bị thương nhẹ giảm 33%.

Tính chung 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4985 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2523 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2462 vụ va chạm giao thông, làm 2193 người chết; 1635 người bị thương và 2887 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông 3 tháng giảm 14,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 6%; số vụ va chạm giao thông giảm 22,3%); số người chết giảm 6,5%; số người bị thương giảm 0,7% và số người bị thương nhẹ giảm 24,9%. Bình quân 01 ngày trong 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 55 vụ tai nạn giao thông, gồm 28 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 27 vụ va chạm giao thông, làm 24 người chết, 18 người bị thương và 32 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai 

Trong 3 tháng đầu năm 2016, rét đậm, rét hại kéo dài cùng với lốc xoáy, triều cường và cháy rừng làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 13,5 nghìn ha lúa; 7,3 nghìn ha hoa màu và 1,5 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 16,5 nghìn con gia súc; 7,5 nghìn gia cầm và hơn 720 tấn thủy sản các loại bị chết. Một số địa phương bị thiệt hại nhiều: Thanh Hóa 7,4 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng, hơn 1 nghìn con gia súc và gần 200 tấn thủy sản bị chết; Yên Bái hơn 640 ha lúa bị hư hỏng và 1,4 nghìn con gia súc bị chết; Thái Bình hơn 500 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; Lào Cai 800 ha hoa màu bị hư hỏng và 1,8 nghìn con gia súc bị chết. Tổng giá trị thiệt hại trong 3 tháng đầu năm ước tính gần 1 nghìn tỷ đồng, trong đó Thanh Hóa thiệt hại 313 tỷ đồng; Yên Bái 236 tỷ đồng; Thái Bình 180 tỷ đồng và Lào Cai 89 tỷ đồng.

Đặc biệt, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino mạnh và kéo dài nhất trong lịch sử làm cho nền nhiệt độ tăng cao, lượng mưa giảm mạnh so với nhiều năm qua đã gây ra tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Đến thời điểm 18/3/2016, toàn bộ các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã bị nước mặn xâm nhập, trong đó 8 tỉnh đã công bố thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn. Mức độ xâm nhập mặn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vào sâu khu vực nội đồng dao động ở mức 40-60 km, với tỉ lệ độ mặn cao, có nơi lên đến 5-6 phần nghìn và dự báo sẽ còn tăng cao và kéo dài đến tháng 5/2016. Tại khu vực Nam Trung Bộ, do lượng nước chứa trong các hồ bị thiếu hụt nên một số địa phương đã bị ảnh hưởng của hạn hán ngay từ vụ đông xuân năm nay. Tính đến thời điểm hiện nay, có khoảng 23 nghìn ha diện tích đất trồng lúa phải dừng sản xuất do thiếu nước, trong đó Bình Thuận 15,4 nghìn ha, Ninh Thuận 5,8 nghìn ha, Khánh Hòa 1,8 nghìn ha. Tổng diện tích đất phải dừng sản xuất tại khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là 2,9 nghìn ha, trong đó Gia Lai 2650 ha, Đắk Nông 215 ha.

Theo báo cáo sơ bộ, tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của 426 nghìn hộ gia đình, làm 172,6 nghìn ha lúa, 8 nghìn ha hoa màu; 41,5 nghìn ha cây ăn quả và 3,5 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng. Tính đến nay, Chính phủ đã chi hơn 600 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương để hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả do hạn hán và xâm nhập mặn.

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng Ba, cơ quan chức năng đã phát hiện 670 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 230 vụ với tổng số tiền phạt là hơn 9,7 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm đã phát hiện 3504 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 1286 vụ với tổng số tiền phạt gần 350 tỷ đồng.

Trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 297 vụ cháy, nổ làm 7 người chết và 21 người bị thương, thiệt hại ước tính 357 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 939 vụ cháy, nổ làm 13 người chết và 80 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 510 tỷ đồng.

Khái quát lại, kinh tế – xã hội nước ta trong quý I năm 2016 mặc dù gặp khó khăn nhưng có chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; số doanh nghiệp thành lập mới tăng nhanh. Thu hút khách du lịch quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khá. Thị trường trong nước nhìn chung ổn định, cung cầu hàng hóa được đảm bảo. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm thấp hơn cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả quan trọng đạt được, nền kinh tế nước ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chững lại, sản xuất công nghiệp và xuất khẩu đạt thấp, tình hình xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long, hạn hán ở miền Trung, Tây Nguyên tiếp tục diễn biến phức tạp đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Để hoàn thành tốt mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2016, tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020, trong thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016 và các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và hộ gia đình tiếp cận nguồn vốn tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, chất lượng tín dụng, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Hai là, triển khai thực hiện khẩn trương và quyết liệt công tác phòng, chống thiên tai, xâm nhập mặn và hạn hán. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống hạn, xâm nhập mặn; Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 09/3/2016 về việc triển khai các biện pháp cấp bách ứng phó xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Các cơ quan chức năng cần theo dõi chặt chẽ, dự báo ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, từ đó thông tin, chỉ đạo kịp thời về thời vụ, giống cây trồng, vật nuôi, trước mắt đối với vụ Hè Thu năm 2016 phù hợp với khả năng nguồn nước. Đẩy nhanh tiến độ để sớm đưa vào sử dụng các công trình thủy lợi, công trình chống hạn; vận hành các hồ chứa, các công trình thủy điện, điều tiết nước hợp lý để vừa bảo đảm phục vụ sản xuất điện vừa bảo đảm nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân.

Ba là, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tăng cường các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa. Tổ chức kết nối thị trường trong và ngoài nước để định hướng sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu hàng hóa đến tất cả các ngành, phân ngành, nhất là hàng nông sản. Chủ động có giải pháp cụ thể thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế, nhất là trong khuôn khổ Cộng đồng ASEAN và các hiệp định thương mại tự do, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Bốn là, tăng cường công tác quản lý, điều hành thị trường, theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường, nhất là các mặt hàng thiết yếu (gạo, xăng dầu, sắt thép, phân bón..), có biện pháp kịp thời, bảo đảm cung, cầu hàng hóa. Lựa chọn thời gian phù hợp điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng thiết yếu, tránh gây tác động lan tỏa về mặt tâm lý ảnh hưởng bất lợi đến mục tiêu kiểm soát lạm phát.

Năm là, tiếp tục thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, triển khai có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Chủ động rà soát, nắm chắc tình hình hộ thiếu đói, thiếu nước ngọt để cứu trợ kịp thời. Đồng thời có chính sách và giải pháp hỗ trợ, khoanh nợ, giãn nợ, xử lý rủi ro đối với các hộ dân, doanh nghiệp trên địa bàn bị thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn theo quy định và tiếp tục cho vay để sớm phục hồi sản xuất phát triển./.

Thegioibantin.com

Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ, https://www.gso.gov.vn/


Chia sẻ

Comments