Khoa học thần kinh về cái đói vô độ

Cả hai bán cầu tiểu não của con người (tiếng Latinh có nghĩa là “não nhỏ”) đều nằm gọn bên dưới các bán cầu đại não lớn hơn. Cerebellar là từ cùng nghĩa với não và có nghĩa là “liên quan đến tiểu não.”

Nguồn: SciePro / Shutterstock

Cách đây không lâu, tiểu não của con người được hầu hết các chuyên gia xem như một vùng não mà công việc chính của nó chỉ đơn giản là phối hợp các chuyển động của cơ bắp. Hầu hết các nhà khoa học thần kinh thế kỷ 20 không nghĩ rằng các tế bào thần kinh tiểu não có liên quan đến các quá trình nhận thức phi vận động hoặc các hành vi hướng đến phần thưởng. Nhưng quan điểm cổ hủ “chỉ chức năng vận động” về tiểu não đã được cập nhật một cách triệt để trong hai thập kỷ qua.

Càng ngày, nghiên cứu mới càng khám phá ra những cách thức chưa từng được biết đến trước đây mà tiểu não hoạt động với các mạng lưới thần kinh rộng lớn để tối ưu hóa các chức năng của toàn bộ não và cho thấy cách thức mà cái gọi là “bộ não nhỏ” của chúng ta thúc đẩy một loạt các hành vi vô thức.

Tuần này, một nghiên cứu của một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế do Nicholas Betley của Đại học Pennsylvania dẫn đầu đã làm sáng tỏ cách một tập hợp con tế bào thần kinh cụ thể trong tiểu não gửi các tín hiệu liên quan đến cảm giác đói và no để chúng ta biết khi nào nên ngừng ăn. Những phát hiện này (Low và cộng sự, 2021) đã được công bố vào ngày 17 tháng 11 trên tạp chí được bình duyệt Thiên nhiên.

Việc phát hiện và xác định tác giả đầu tiên Aloysius Low et al. đang gọi “một mạng lưới thỏa mãn tiểu não” có thể dẫn đến những can thiệp mới giúp mọi người ăn ít hơn và giảm cân.

Nguồn: Mohamed Hassan / Pixabay

Đáng chú ý, việc xác định mạng lưới cảm giác no này của Betley Lab gần đây được lấy cảm hứng từ nghiên cứu trước đây ở những bệnh nhân mắc hội chứng Prader-Willi, một chứng rối loạn di truyền được đánh dấu bởi sự thèm ăn vô độ (tức là chứng tăng não) và không có khả năng cảm thấy no – ngay cả sau khi ăn một bữa ăn lớn. .

Dựa trên nghiên cứu trước đây về hội chứng Prader-Willi, Betley và Low bắt đầu suy đoán rằng tiểu não có thể đóng một vai trò nào đó mà trước đây chưa được biết đến trong tình trạng đói vô độ.

Vì vậy, họ đã liên hệ với Laura Holsen tại Bệnh viện Phụ nữ và Brigham của Trường Y Harvard, người có một bộ dữ liệu fMRI hiếm hoi từ khoảng một thập kỷ trước (Holsen và cộng sự, 2011) theo dõi lưu lượng máu trong não của bệnh nhân Prader-Willi. .

Nghiên cứu trước đây của Holsen tập trung vào các cơ chế thần kinh cơ bản gây ra chứng tăng não trong hội chứng Prader ‐ Willi và xem xét “mạch thúc đẩy thức ăn dưới vỏ và mạch ức chế trước trán hoạt động để đáp ứng với các kích thích thức ăn trước và sau khi ăn.”

Tuy nhiên, phân tích ban đầu của dữ liệu fMRI này không xem xét kỹ tiểu não, nằm bên dưới vỏ não. Đáng ngạc nhiên, khi Betley và Low xem xét kỹ hơn các hình ảnh fMRI với đỉnh tiểu não, họ nhận thấy một điều bất ngờ.

Khai phá các chức năng không vận động của tiểu não thường khiến các nhà thần kinh học mất cảnh giác

Trong một thông cáo báo chí, Bentley mô tả khoảnh khắc khám phá này và sự hoài nghi ban đầu về những gì họ đang thấy: “Tiểu não bật ra, và tất cả chúng tôi đều nhìn vào điều này và nói rằng, ‘Đây có phải là sự thật không?’ [It] thật tuyệt vời. Trên thực tế, tôi nghĩ rằng nó đã sai lầm. ”

Sau quan sát ban đầu này, Betley khuyến khích Low tiến hành một loạt thí nghiệm trên chuột để xem liệu linh cảm của họ về những gì họ đặt ra như một “mạng lưới châm biếm tiểu não” có chính xác hay không. Trong năm tiếp theo, các phát hiện của các nhà nghiên cứu đã thuyết phục họ rằng mạng lưới này thực sự tồn tại.

Betley lưu ý: “Thật ngạc nhiên khi bạn vẫn có thể tìm thấy những vùng não quan trọng đối với những hành vi sinh tồn cơ bản mà trước đây chúng ta chưa từng liên quan đến. Và những vùng não này rất quan trọng theo những cách mạnh mẽ”, Betley lưu ý.

Bằng cách sử dụng phương pháp dịch mã ngược, phòng thí nghiệm của Betley đã có thể xác định và mô tả chức năng của một nhóm thần kinh thúc đẩy cảm giác no thông qua một tập hợp con riêng biệt của các tế bào thần kinh trong nhân tiểu não sâu trước (aDCN).

Ở chuột, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc kích hoạt các tế bào thần kinh aDCN xâm nhập vào “đường dẫn phần thưởng” dopamine điều khiển trong thể vân bụng của não. Như các tác giả giải thích, “Chúng tôi phát hiện ra rằng hoạt động aDCN chấm dứt lượng thức ăn bằng cách tăng mức dopamine thể vân và làm giảm phản ứng dopamine phasic đối với việc tiêu thụ thức ăn sau đó.”

Điều thú vị là các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng khi họ kích hoạt các tế bào thần kinh aDCN ở chuột, chúng sẽ tự động ngừng ăn khi đã nạp đủ calo. Nhưng nếu chúng được cung cấp thức ăn ít calo hơn, chuột sẽ ăn với số lượng lớn hơn bình thường để bằng với lượng calo tiêu thụ của chúng. Betley giải thích: “Điều đó cho chúng tôi biết rằng loài động vật này đang tính toán lượng calo mà nó hấp thụ và dừng lại khi nó nghĩ rằng đã đủ.

Đánh cắp “mạng lưới cảm giác no của tiểu não” có thể là một cách mới để hạn chế việc ăn quá nhiều bằng cách kích hoạt cảm giác no

Nghiên cứu mới nhất (năm 2021) cho thấy rằng các tế bào thần kinh trong nhân tiểu não sâu trước của tiểu não là chìa khóa để điều chỉnh khẩu phần và kích thước bữa ăn một cách trực quan. Việc xác định các cách không xâm lấn để bật và “tắt” các tế bào thần kinh tiểu não aDCN này có thể là một yếu tố thay đổi cuộc chơi để giúp mọi người ăn ít hơn mà không liên tục cảm thấy đói hoặc thèm ăn nhiều hơn.

Các nghiên cứu lâm sàng liên quan đến người (không phải chuột) là cần thiết để xem “mạng lưới thỏa mãn tiểu não” mới được phát hiện này hoạt động như thế nào ở người. Nghiên cứu sắp tới về mạng lưới cảm giác no này của Betley và các đồng nghiệp của ông sẽ cung cấp cho chúng ta thêm chi tiết về cách thức điều hòa cảm giác đói và no vô độ trong não người.

Hình ảnh Facebook: 1Roman Makedonsky / Shutterstock

Thế giới bản tin | Vina Aspire News

Nguồn : https://www.psychologytoday.com/intl/blog/the-athletes-way/202111/the-neuroscience-insatiable-hunger-and-satiety

Vina Aspire – Vững bảo mật, trọn niềm tin

Để lại một câu trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.